Quảng cáo Việt Nam - làm sao để trụ vững trên sân nhà? (Phần 1)

80% thị phần đang nằm trong tay hơn 20 công ty quảng cáo nước ngoài. Con số thống kê mà Hiệp hội Quảng cáo Việt Nam VAA đưa ra không làm người trong cuộc ngạc nhiên mà đặt ra câu hỏi: Làm gì để tháo gỡ khó khăn và giúp hàng ngàn doanh nghiệp trong nước trụ vững ngay trên sân nhà.

Theo giới chuyên môn, ngành quảng cáo Việt Nam hình thành từ 10 năm nay, khi Mỹ bắt đầu bãi bỏ cấm vận. Lúc đó, các công ty quảng cáo nước ngoài đã đi cùng với những tập đoàn sản xuất hàng hóa lớn như Unilever, CocaCola, Pepsi và thổi một luồng sinh khí mới vào ngành công nghiệp non trẻ này. Các công ty quảng cáo Việt Nam khi ấy chỉ nhận gia công lại các chương trình như sản xuất và lên kế hoạch truyền hình, phát sóng. Dần dần, thông qua học hỏi kinh nghiệm từ đồng nghiệp nước ngoài, các công ty quảng cáo trong nước lớn mạnh và bắt đầu nhận làm những hợp đồng trọn gói .Từ chỗ chỉ có vài chục doanh nghiệp, nay đã có khoảng 5.000 công ty Việt Nam tham gia thị trường.
 
Tuy nhiên, có một thực tế là trong số hơn 1 tỷ USD doanh thu từ quảng cáo mỗi năm tại Việt Nam, các công ty trong nước chỉ đóng góp 10-20%. Trên 80% còn lại thuộc về số ít những tập đoàn quảng cáo lớn trên thế giới. Nói rõ hơn, nếu chỉ tính mảng gia công, thực hiện những công đoạn cuối cùng của quá trình quảng cáo thì các doanh nghiệp trong nước chiếm tới 90%. Nhưng nếu tính những hợp đồng quảng cáo lớn nhất, trọn gói thì các doanh nghiệp nước ngoài chiếm tới 90%. Nguyên nhân chính, là do các tập đoàn quốc tế chưa tin vào trình độ nghiệp vụ của các công ty quảng cáo Việt Nam, vì vậy họ chỉ thuê các công ty nước ngoài. Rất ít doanh nghiệp Việt Nam nhận được hợp đồng quảng cáo cho những tập đoàn như vậy, và nếu có cũng chỉ là hợp đồng phụ  thầu lại của một đối tác nước ngoài. 
 
 
- Vậy thì đâu là nguyên nhân, khiến cho quảng cáo Việt Nam vẫn đang lung túng tìm chỗ đứng ngay tại sân nhà?
 
Vấn đề đầu tiên -  thuế thu nhập doanh nghiệp tại Việt Nam hiện nay. Mức thuế áp dụng với các doanh nghiệp trong lĩnh vực này hiện rất cao (28%), nó được duy trì từ những năm 90 của thế kỷ trước, khi quảng cáo còn là ngành kinh doanh siêu lợi nhuận.
 
Thời điểm đó, các tập đoàn quốc tế mới vào Việt Nam, họ trả cho quảng cáo bằng mức kinh phí làm tại đất nước của họ, một biển tấm lớn họ có thể tới 40.000-100.000 USD. Trong khi đó, tiền thuê đất, thuê chỗ quảng cáo chỉ vài triệu đồng mỗi năm. Tuy nhiên, vào thời điểm hiện nay, một biển tấm lớn như vậy giỏi lắm cũng chỉ ký được 10.000-20.000 USD  mà tiền thuê đất đã chiếm gần hết. Vậy mà chính sách thuế vẫn không hề thay đổi. Thuế cao, cạnh tranh gay gắt, lợi nhuận ít đi dẫn đến tái đầu tư kém hơn. Muốn khuyến khích quảng cáo phát triển thành một ngành công nghiệp quan trọng thì đào tạo phải tốt, chính sách đúng.
 
Ở tầm vĩ mô, ngành quảng cáo luôn bị những khống chế về mặt chính sách, dù đã có pháp lệnh và những nghị định hướng dẫn riêng nhưng các doanh nghiệp trong ngành luôn bị làm khó dễ bởi những quy định riêng của mỗi địa phương. Nếu như TP HCM có quy định cấm quảng cáo ngoài trời thì ở Đà Nẵng lại phân biệt mức phí trên không với mức phí dưới nước. Còn ở Hà Nội, các thủ tục làm giấy phép quảng cáo đôi khi khó quá. Vì vậy, mới có chuyện các nhà quảng cáo phải tồn tại bằng cách dựng biển không phép. 
 
Theo Hiệp hội Quảng cáo, các nhà hoạch định chính sách đã đến lúc cần tìm hiểu sâu hơn về bản chất, tính chuyên nghiệp cũng như đóng góp của quảng cáo đối với kinh tế để đưa ra những quyết định sát thực hơn.

(Còn nữa) 

  • Cùng Thể loại